Thursday, January 5, 2023

Thầy Doãn Quốc Sỹ "Khu Rừng Lau" đã Trăm Tuổi (1923 - 2023)


(Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 - present)







Giáo Sư/Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ trong Lễ Mừng Thọ 100 tuổi được tổ chức tại Westminster, California ngày 10 Tháng Mười Hai 2022 (ảnh: Trịnh Thanh Thủy)

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không gọi là “Giáo sư” như những năm sau này. Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”.

Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng tiểu sử của thầy trên mạng Wikipedia cho biết thầy chỉ dậy ở trường Chu Văn An có một năm 1952-1953, sau khi thầy dậy ở Nam Định một năm 1951-1952. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 1954, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Sài Gòn năm 1953-1960. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Sài Gòn trước năm 1954. Không hiểu niên học 1953-1954, trước khi di cư thầy dậy ở đâu. Chắc phải kiểm chứng lại mạng này, và đó là một câu hỏi tôi cần tìm hiểu.

Trường Chu Văn An là hậu thân của trường Bưởi. Trường Bưởi ở khu Hồ Tây, bên cạnh đường tầu điện từ bờ Hồ Hoàn Kiếm qua Thụy Khuê đến trạm cuối là chợ làng Bưởi. Tôi chưa được vào xem trường này, chỉ ngồi nhìn từ trên xe điện. Nhất là sau này trường bị chiếm và là hậu cứ của lính nhẩy dù Pháp.

Trường Bưởi không còn nữa, và để thay thế, trường Chu Văn An được thành lập sau khi thành phố Hà Nội được vãn hồi an ninh. Trong đời, tôi chưa thấy một trường trung học nào như thế. Bây giờ muốn kể lại chuyện mà đầu óc ngày càng rỗng, thiếu chữ nghĩa để nói về ngôi trường đó, về cơ sở, về tổ chức, về những vị thầy cũng như cung cách về nền giáo dục và bọn học trò như chúng tôi.

Trường tọa lạc tại đường Đỗ Hữu Vị, trước cổng thành Thăng Long, Cửa Bắc mà tôi đã có vài lần đến xoa tay vào mấy vết đại bác do quân Pháp bắn vào chân tường thành trong thế kỷ trước mà hai vị tướng trấn thủ Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu đã phải tuẫn tiết theo thành.

Nhà tôi ở khu Hàng Bún, ngôi nhà hai tầng ở góc đường Yên Ninh và Phạm Hồng Thái, phía bên kia là khu Nhà Đèn, tức là nhà máy điện lớn của thành phố. Nhiều hôm, nhà máy nhả khói. Bụi than bay khắp vùng, phủ đen dưới đáy các chậu nước. Lần về thăm căn nhà cũ năm 1994, thấy cảnh nhà máy này bị bom san bằng, chính xác đến nỗi mà các khu phố xung quanh không bị xuy chuyển. Hồi đi học, tôi thường đi bộ ngang qua phố hàng Bún, ngang qua đường Quan Thánh, tới đường Đỗ Hữu Vị quẹo trái là tới ngay trường.

Trường là một cơ sở đồ sộ đã được xây từ lâu thời Pháp thuộc, nghe nói trước là trường Bách Nghệ, huấn luyện các thợ chuyên nghiệp. Qua cổng chính của trường là một nhà “gác gian”. Sân trường rộng mênh mông, có cả sân bóng đá, sân bóng rổ, sân bóng truyền và các lối đi rộng rãi, hai bên trồng hai hàng cây lim, cây sấu cổ thụ.

Mùa hè, ve kêu inh ỏi. Đi vào phía bên trái, là khu “nhà chơi”, mà chúng tôi thường gọi tên tiếng Pháp là “Préau”. Nhà chơi đặt nhiều bàn pingpong, và có một vài hàng bán quà ăn vặt. Mùa mưa, giờ ra chơi, chúng tôi thường tụ tập ở đó. Nhớ nhất là những buổi sáng mùa Đông lạnh cóng, tôi thường mua bánh mì nóng hổi với nhân chả bò rắc thêm muối tiêu, ngon đến nhớ đời.

Tòa nhà lớn ba tầng chạy dài, phải dùng đến ba cầu thang. Cầu thang chính ở giữa tòa nhà và hai cầu thang ở hai đầu, mà cầu thang nào cũng bằng gỗ trắc, bóng nhẵn như ở các dinh thự. Hành lang trên các tầng rộng rãi, nhìn xuống sân. Các phòng học thì khỏi nói. Trường lại có một phòng thí nghệm trang bị những chai lọ hóa chất, ống nghiệm và một phòng hội họa mà mỗi học trò đều có một giá vẽ như một họa sĩ thứ thiệt. Nhưng phải nói đến cái cung cách của học đường ngày đó, cái cung cách được phối hợp của nền giáo dục Đông Phương và Âu Tây của người Pháp mang đến. Không có cái tình trạng bát nháo như ngày nay.

Tôi còn nhớ rõ, ngày thầy Sỹ xuất hiện tại trường, thầy khác hẳn với các thầy khác. Thầy Xán hiệu trưởng, thầy Thận giám học, thầy Phụng tổng giám thị, các thầy dậy khác, suốt niên học đều mặc đồ bộ, complet cà-vạt, giầy bóng , đi đứng nghiêm trang. Học trò hầu hết đều ngoan ngoãn chăm chỉ học hành, nhưng vẫn có những bọn quỷ quái.

Đặc điểm của mỗi thầy làm tôi còn nhớ mãi từng thầy. Thầy Hải dậy Cổ văn, tóc đen trải brillantine bóng nhẫy, học trò thường bảo nhau ruồi mà lỡ đậu xuống cũng phải té nhào. Thầy Sửu, ở Anh mới về, thầy trông giống hệt Mr. Pickwick trong sách, bụng thầy hơi mập và đeo giây lưng choàng qua vai, nói giọng đặc “Ăng Lê”.

Thầy Loan dậy Pháp văn, trông rất dữ, thầy thấp người, lông mày dài quặp xuống, trông như tướng cọp. Mùa Đông lạnh, thầy mặc hai quần, nhiều khi quần trong thò ra khỏi quần ngoài, không có một đứa học trò nào dám hó hé, buồn cười mà không dám nhúc nhích, ngồi im thin thít. Tội nghiệp cho mấy trò nhỏ ngồi bàn trên, có đứa sợ ướt cả ra quần. Cụ Cử Tiếp, cụ mặc áo dài the đen, đội khăn xếp, hình ảnh của thời tàn Nho.

Cụ dậy Hán Văn là môn phụ lại khó học, khó nhớ từng nét chữ, mỗi lần cụ gọi đứa nào lên bảng trả bài bằng cách viết trên bảng những chữ cụ dậy, hầu hết cứ đứng ngớ ra, phải chờ bọn ở dưới viết chữ đằng sau cái cặp da, khi cụ ngoảnh đi thì giơ lên để nó chép vội lên bảng. Có vài đứa khờ chép mãi không nổi, khiến bọn ở dưới cứ phải giơ cặp lên, kéo cặp xuống nhiều lần như một trò chơi “Đi dấu đi tìm” với cụ mà cụ không biết.

Thầy Tấn dậy bài “Nhật thực Nguyệt thực”, mà ra đề thi đúng bài này, mấy đứa vẽ họa đồ không được, bèn tìm cách trả thù thầy. Mùa Đông thầy mặc quần dạ đen, có thằng quỷ quái, cạo phấn trắng rắc trên ghế trước giờ học, thầy không để ý, phấn dính vào quần thầy, thầy thản nhiên đi từ lớp này đến lớp khác. Thằng quỷ đi rêu rao, quần thầy dính cứt cò… Nhiều lúc thấy chúng chơi ác, tôi thấy thật tức định gây sự, nhưng bọn chúng có mấy đứa, nên tôi phải nhịn.

Ai cũng biết, học trò quỷ quái thường sinh ra trong những năm rỗi rãi không lo việc thi cử, nhất là trong các trường công lập. Đệ Thất thì còn non, đó là hai năm Đệ Lục và Ngũ, tôi ở trong các lớp đó, xin các thầy tha tội cho chúng nó. Thầy Hùng Lân dậy Nhạc, cũng là môn phụ, nhưng không một học trò nào dám rỡn với thầy.

Thầy rất nghiêm, đứa nào lờn mặt là thầy bắt ngửa tay lấy thước đánh như học trò tiểu học, thầy gọi là cho mấy hèo và còn phạt giam “consigne” ngày cuối tuần. Nhưng thầy là một người dậy nhạc rất giỏi, thầy soạn ra mấy quyển sách giáo khoa về nhạc rất sư phạm cho bậc trung học. Tôi còn nhớ một số bài, thầy chỉ cần ba note chính mà thành một bản nhạc đầy đủ, tình tự, như bài sau đây dùng ba note cung trầm đồ, mi sol:

“Chiều tà sương lam lắng xuống thôn
Tiếng sáo xa đưa hiu hiu buồn
Trăng lên dần nhấp nhô đầu núi
Trên đê mờ đàn trâu bước dồn.”

Tôi học thầy hai năm, tuy ít giờ, nhưng tôi có được căn bản nhạc lý khá vững. Tôi được thầy chọn vào ca đoàn của trường, có lần thầy dậy chúng tôi hát bè bài “Hè Về, Hè Về” và đã được lên trình diễn tại nhà Hát Lớn Hà Nội. Thầy là một nhạc sĩ nổi tiếng từ hồi 1945, với hai bài tôi thường hát hàng ngày với toán nhi đồng cứu quốc trong phố là “Việt Nam Minh Châu Trời Đông”, và bài “Khỏe Vì Nước”.

Bài Việt Nam Minh Châu Trời Đông là một trong ba bài, bài “Này Công Dân Ơi”, bài “Chào Mừng Việt Nam”, không phải bài “Việt Nam, Việt Nam” như mọi người thường hát, được đưa ra để chọn làm Quốc ca khi miền Nam mới được thành lập chế độ Cộng Hòa năm 1956. Tiếc rằng ban tuyển lựa đã không có lập trường quốc gia vững chắc và dứt khoát với quá khứ nên đã giữ bản quốc ca cũ. Bản Việt Nam Minh Châu Trời Đông của thầy lời uy nghiêm, thấy cả một đất nước lừng lẫy bên biển Thái Bình… Tôi cho đó là một điều đáng trách.

Thầy Doãn Quốc Sỹ thì khác hẳn, ngày đầu đứng trên bục gỗ dáng cao và gầy, tóc hơi quăn tự nhiên, nét mặt xương xương, người hãy còn đượm nhiều nét phong sương của những năm dài theo kháng chiến. Thầy giản dị, thường mặc y phục mầu nhạt, nếp không thẳng và hình như ít thấy thầy mặc complet cà-vạt như các thầy khác.

Thầy dậy Việt Văn, và thêm môn Công Dân Giáo Dục. Cách thầy dậy môn này khá hấp dẫn, khác hẳn với các lời giảng khuôn mẫu cổ điển của luân lý mà các thầy khác dậy trong những năm học trước. Tôi còn nhớ, khi thầy giảng về Tình Nhân Loại, thầy lấy một thí dụ trích từ một truyện của ngoại quốc:

Trong một trận chiến khốc liệt, hai bên cùng tràn lên, lẫn lộn đánh cận chiến, bỗng hai người lính của hai bên cùng nhẩy xuống chung một cái hố để tránh đạn. Khi cả hai cùng bừng tỉnh, họ mới nhận ra là kẻ thù của nhau, đáng lẽ họ phải tìm cách giết nhau, không hiểu sao họ lại cùng ngồi yên và sau này thành bạn của nhau. Cái nguyên cớ đó từ đâu, có phải đó là tình nhân loại đã bật dậy trong lúc đó không?

Những năm thầy Sỹ đi theo kháng chíến thì tôi cũng bị cuốn đi như thầy. Tôi mất bốn năm theo cha tôi, cha tôi theo bên nội, tất cả bên nội tôi đi theo Việt Minh. Tôi làm liên lạc viên cho một cơ quan Kinh Tài của Liên Khu 3, còn cha tôi vì biết tiếng Pháp nên làm cho cơ quan Địch Vận thường phải ở sát vùng tề, vùng địch.

Họ ngoại tôi thì theo Quốc Gia, về thành, tức là về Hà Nội rất sớm. Người em út của mẹ tôi, cậu tôi Ngô Kim Cương, đỗ “diplome” tại trường Bưởi, xin vào làm thông phán Phủ Toàn Quyền đã lâu hồi còn Pháp đô hộ, theo Quốc Dân Đảng bị bắt ngay sau ngày Việt Minh cướp chính quyền. Sau đó được giải cứu và lên chiến khu Yên Bái, chỉ sau một tháng, Việt Minh đem quân bao vây san bằng chiến khu. Cậu tôi biệt tin từ đó.

Cha tôi là cán bộ xa nhà, không nuôi nổi gia đình. Mẹ tôi qua những năm vất vả tại hậu phương, lại phải một mình lặn lội tìm đường về Hà Nội trước, sau đó mới ra đón cha con tôi về. Nhờ thế tôi đã bỏ được “Bác”, nếu không thì sẽ trở thành một tên thất học, và rồi chắc cũng khó tránh được cảnh “Sinh Bắc Tử Nam”.

Tôi thuộc loại học trò lớn tuổi trong lớp vì hồi cư trễ, lại phải trải qua những năm loạn lạc vừa qua. Tôi lớn hơn 3, 4 tuổi so với các trò khác và thường phải ngồi ở bàn cuối lớp. Tôi học dễ dàng, và cũng chưa bao giờ chuyên chú thật sự vào việc học, nhất là cũng chẳng bao giờ muốn đứng đầu nhất nhì lớp. Tôi lại có nhiều bạn. Các bạn cùng lớp còn lại sau này, có Nguyễn Thượng Hiệp, Hiệp tài hoa, có một thời làm báo tại Cali và đã mất.

Đỗ Hữu Tước thành bác sĩ, ở cùng thành phố với tôi và thỉnh thoảng vẫn gặp nhau tại chùa. Nguyễn Ngọc Giao, học khá giỏi, thường đứng đầu lớp. Tôi nhớ hồi đó hay cùng Giao, Hiệp và Ngô Quang Vỹ thường họp nhau tại Vườn Bách Thảo để làm bích báo cho lớp. Vào Sài Gòn, Giao được học bổng du học Pháp năm 1958, thân Cộng rồi theo Cộng làm tờ Diễn Đàn ở Paris.

Sau khi khối Liên Xô tan rã và Hà Nội không cho Giao về nước, bạn tôi Hà Dương Dực nhân dịp sang Pháp có mang một câu hỏi của người anh Giao, một sĩ quan cao cấp Hải Quân muốn hỏi Giao là “Hỏi nó còn theo Cộng Sản không?”. Trong một bài viết, Giao có thuật lại chuyện này và trả lời thẳng thắn là vẫn theo chủ nghĩa Cộng Sản, bài này tôi đọc được trên báo Diễn Đàn của Giao. Khi Dực mất, tôi có viết một bài về Dực và cũng nhắc lại chuyện đó.

Bài này có đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ và tôi cũng gửi cho Giao, Giao không đăng trên Diễn Đàn nhưng lại trả lời tôi bằng email thông thường như những người bạn cũ được tin nhau. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối chúng tôi liên lạc với nhau. Thấy thật ghê sợ, cái chất độc, độc hơn ma túy, tiêm vào một số người khiến không tỉnh được, và đã làm cho đất nước ngày càng có nhiều chuyện quái đản. Nhưng những tháng vừa qua, tôi theo dõi tờ Diễn Đàn, thấy trang mạng của Giao đã đổi chiều với nhiều góc độ lớn.

Một người bạn khác là Nguyễn Đắc Điều cùng thời, anh không học cùng lớp với tôi, anh học B3, tôi B4, nhưng khi vào trường Hành Chánh và Đồng Đế, anh cùng khóa với tôi trong một thời gian dài. Anh có một trí nhớ rất tốt, tôi thường gọi nói chuyện với anh, những chuyện bạn bè ngày nay, ngày xưa, mỗi lần hỏi anh đều trả lời cặn kẽ, ít khi sai. Hiện nay vợ chồng anh ở San Diego.

Hồi đó, nhờ thầy Hùng Lân tôi rất thích âm nhạc, bao nhiêu bài nhạc xuất bản hồi đó, tôi đi mượn nắn nót chép lại thành 5, 6 quyển sách dầy cộm. Tôi chơi đàn mandoline, manjo và Hạ Uy Di, những thứ đàn có thể tự học lấy, ngày nay còn rất ít người chơi. Tiếng đàn của tôi văng vẳng trong khu phố với những bài như Dư Âm, Trăng Mờ Bên Suối, Nụ Cười Sơn Cước... cùng những bản của hồi đầu kháng chiến như Bên Cầu Biên Giới, Tình Kỹ Nữ… trữ tình ướt át làm một cô học trò hàng xóm xấp xỉ tuổi tôi, để ý đến tôi. Cô thường đi qua và dừng lại chỗ cửa sổ nghe tôi đánh đàn. Chắc cô mê tiếng đàn của tôi. Nhưng tôi đã không trở thành nhạc sĩ nên duyên nợ chẳng đi đến đâu. Tôi nghĩ vậy.

Về Việt văn, thầy Sỹ dậy chúng tôi về văn mới, những ý tưởng mới, khác hẳn với cổ văn như “Nhị Thập Tứ Hiếu”, “Lục Súc Tranh Công”… Thầy trích những đoạn văn hay, tiêu biểu của các nhà văn thời Tiền Chiến, khiến tôi rất thích và tìm đọc tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn, của nhóm Hàn Thuyên và các nhà văn khác như Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Trần Tiêu… và sau này là Đỗ Tốn. Tôi ghiền đến nỗi, đọc không còn một quyển nào của tiệm cho thuê sách ở góc chợ Đồng Xuân. Khác với các bạn tôi thường hí hoáy chép các vần thơ của các thi sĩ nổi tiếng, tôi lại tìm chép những đoạn văn hay thành một quyển như tôi đã từng chép những bài nhạc.

Tôi không được sống trong thời kỳ văn thơ lãng mạn tiền chiến, nhưng nhớ lại những năm Hà Nội đó, dù là trong chinh chiến văng vẳng ở núi rừng xa, vẫn là một thành phố yên bình với những bài nhạc tôi đã chép, những tiểu thuyết xưa tôi đã đọc, những hình ảnh của các thành quách, phố cổ rêu phong… trở thành những tình tự lãng mạn của một thời tiền chiến còn sót lại khó quên…

Những bài luận văn thầy Sỹ đưa ra trong những năm đó hình như đều là văn tả cảnh, chứ không tả tình. Thí dụ như thầy ra một đầu đề là “Tả một đêm trăng sáng tại đồng quê”, đó là cái “tủ” của tôi rồi. Tôi không đến nỗi láu cá đưa vào bài những câu mình đã chép lại, thế nào thầy cũng biết. Tôi viết bằng một giọng văn mới lớn và nhớ lại những ngày loạn lạc ở vùng quê. Hồi đó tôi nghĩ thầy chưa vào nghiệp văn, nhưng chắc thầy thấy lạ, nên bài của tôi thường được thầy bảo một trò khác đọc cho cả lớp nghe.

Nhiều năm sau, năm đậu xong Tú tài I, tự nhiên cảm thấy chán học, tôi nộp đơn xin vào Không Quân, Hải Quân đều bị người nhà ngăn chặn. Nhân dịp Việt Tấn Xã tuyển phóng viên, tôi nghĩ mình cũng có chút tài viết lách, lại thích lang thang như mấy ông làm báo, khi vào phỏng vấn, ông chủ sự thấy tôi ở năm cuối Trung Học, ông khuyên tôi trở về học nốt. Nghiệp viết văn chớm nở của tôi đã tiêu tan.

Trong những năm đầu ở Sài Gòn, tôi hay tìm đọc các tạp chí văn học thì thấy tên của thầy Doãn Quốc Sỹ đã thành một nhà văn chính thống được nhiều người biết tiếng. Thầy cho xuất bản nhiều tác phẩm, tôi đọc gần hết nhưng không hiểu sao tôi lại thích truyện “U Hoài” và nhân vật “Miên” trong trường thiên “Khu Rừng Lau” của thầy. Mấy năm sau, tôi thi được vào trường Hành Chánh, một cái nghề “Sáng vác ô đi, tối vác về”, khác hắn với bản tính của tôi, chắc có lẽ là học bổng của trường quá hậu đãi.

Sau khi tốt nghiệp, tưởng được kéo cái đời ký cóp ở Sài Gòn, không ngờ Tổng thống Diệm đổi chính sách khiến một nửa khóa được đưa vào Trung Ương Tình Báo, còn một nửa khóa trong đó có tôi phải ra Đồng Đế để huấn luyện thành Chuẩn Úy, sau đó, tôi lại được chuyển ra làm phó đảo Phú Quốc. Lúc đó đảo còn hoang vu và bất an, tôi ở đó ba năm không xin đổi. Tôi đã mất cả một thời gian dài quên đọc truyện, mất cả một thời tuổi trẻ lãng mạn nghe nhạc của Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng… Mãi sau ra hải ngoại mới bắt kịp lại thì đã nửa đời rồi.

Bao nhiêu thầy dậy tôi trong thời mới lên trung học đó, hầu hết tôi không còn được tin tức về thầy nào, tôi thấy thương tất cả các thầy. Chỉ có nghe tin thầy Sỹ bị Cộng Sản bắt giam đến hai lần, mà lần nào cũng dài đằng đẵng. Cuối cùng thầy cũng đến được Mỹ và ở Houston, nay rời đến Cali. Mấy năm trước dịch Covid, tôi bay xuống Cali, được người bạn thân Trần Huy Bích dẫn đến tham dự một buổi trình diễn văn nghệ tại Hội Việt Học.

Tình cờ tôi gặp lại thầy Sỹ, thầy ngồi ở hàng ghế trên, tôi lên chào thầy, tôi thấy thầy không thay đổi mấy so với thời mà thầy dậy tôi, trông vẫn an nhiên chỉ có già thêm thôi. Trong cái ồn ào của phòng hội, tôi chắc thầy không nghe được tôi nói gì và cũng khó nhận ra biết tôi là ai. Tôi bèn nói với cô con gái đi theo thầy, tôi là học trò cũ của thầy từ Hà Nội, thầy thường cho đọc những bài luận văn tôi viết cho cả lớp nghe.

Tháng vừa rồi, tôi xuống thăm Cali, lại được bạn Trần Huy Bích cho biết đã đi họp để tổ chức sinh nhật thứ 100 của thầy: “Khu Rừng Lau” đã trăm tuổi. Tôi càng nhớ thầy, nhớ đến những năm học xưa, nhớ đến những lần thầy cho đọc bài của tôi, được thầy khuyến khích như thế mà tôi đã lơ là bỏ mất nghiệp văn, nếu không tôi đã trở thành một “nhà văn nhớn”.

Tôi ở Seattle, không tham dự được buổi lễ chúc mừng thầy. Xin kính chúc thầy được luôn luôn vui mạnh.

Nguyễn Công Khanh

Wednesday, January 4, 2023

Xuân - Băng Nhạc Tiếng Tơ Đồng - Cassette




Mặt A


Mặt B


(sưu tầm từ internet)

Từ Hoàng Tử lưu vong đến hãng dầu Cù Là nổi tiếng Đông Dương


Hoàng tử Myingun

"Bòn bon si cu la, bánh bao sữa hột gà, dầu cù là Mac Phsu…”, lời hát quen thuộc xưa kia cho thấy sự nổi tiếng của dầu cù là Mac Phsu, nhưng ít ai biết rằng nguồn gốc dầu cù là này có liên quan đến một vị Hoàng tử Miến Điện lưu vong ở Sài Gòn.



Miến Điện dưới thời thuộc Anh

Thời kỳ vua Pangan trị vì, Miến Điện bước vào cuộc chiến vệ quốc trước sự xâm lược của Anh.

Kết quả Miến Điện phải nhường lại toàn bộ vùng Hạ Miến cho Anh vào năm 1852, trong khi cuộc chiến vẫn tiếp tục với nhiều khó khăn bất lợi cho Miến Điện.

Vùng Hạ Miến Điện vốn là nơi cung cấp lương thực và mang đến nguồn thu dồi dào từ các thương cảng. Việc phải nhượng cho Anh vùng Hạ Miến khiến Miến Điện ngày càng suy yếu. Cuộc sống khó khăn khiến dân chúng các nơi di cư đến Hạ Miến thuộc Anh, làm Miến Điện mất đi nguồn lao động và nguồn thu thuế.

Em trai của vua Pagan Min là Mindon Min làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ngay từ đầu đã không đồng ý với việc chiến tranh với người Anh. Ông đề xuất cần có sự đàm phán với người Anh để có lợi cho đôi bên. Em trai của Mindon là Kanaung Mintha cũng ủng hộ kế sách này.

Cuối năm 1852, Mindon cùng em là Kanaung lật đổ anh trai mình là vua Pangan. Đầu năm 1853, Mindon lên ngôi Vua. Ông mong muốn canh tân đất nước, ngăn sự bành trướng của người Anh. Kanaung được làm Thái tử và sẽ kế nghiệm ngôi Vua sau này.


Vua Miến Điện Mindon Min (8.7.808 - 1.10.1878)

Vua Mindon đã thỏa hiệp ngừng bắn được với người Anh, nhờ đó mà tập trung lực lượng đánh bại cuộc xâm lăng của quân Xiêm (Thái Lan ngày nay). Mindon tập trung giúp Miến Điến ổn định và phát triển.

Trong khi đó, Thái tử Kanaung phụ trách quân đội, có quan hệ tốt với các nước phương Tây, cho nhập nhiều vũ khí nhằm hiện đại hóa quân đội. Thái tử Kanaung cũng cho người đi học ở phương Tây nhằm canh tân đất nước.

Hoàng tử Myingun cướp ngôi Vua

Trong khi Miến Điện đang ổn định phát triển thì năm 1866 xuất hiện biến cố lớn ở Kinh thành. Hai con trai của Vua Mindon là Hoàng tử Myingun và Hoàng tử Myingundaing thực hiện cuộc đảo chính nhằm cướp ngôi. Chính sử không nói rõ lý do, nhưng nguyên nhân có lẽ là vì Mindon đã lập em trai Kanaung làm Thái tử thay vì lập con. Điều này khiến các hoàng tử không bằng lòng và tìm cách cướp ngôi.


Hoàng tử Myingun ám sát người chú ruột Kanaung Mintha là cánh tay phải của vua cha Mindon Min giúp tái thiết đất nước.

Hoàng tử Myingun cho rằng Thái tử Kanaung là kẻ áp bức nên làm cuộc binh biến và sát hại được Knaung. Vua cha Mindon thoát chết và đưa quân đến dập tắt cuộc đảo chính.


Kanaung Mintha (31.1.1820 - 2.8.1866 bị chặt đầu)


Cướp ngôi bất thành, hai anh em Myingun và Myingundaing đưa mẹ chạy đến vùng thuộc địa của Anh để trốn tránh. Nhưng sau đó người Anh muốn có hòa khí với Triều đình và dân Miến đã nên không muốn Myingun sống ở vùng đất của mình. Năm 1886, Miến Điện đã rơi hoàn toàn vào tay Anh .


Toàn quyền Anh Hubert Elvin Rance va` Tổng thống đầu tiên của Myanmar Sao Shwe Thaik trong lễ quốc khánh ngày 4.1.1948

Hoàng tử Myingun lưu lạc đến Sài Gòn

Myingun phải sống lưu vong qua nhiều nơi. Sau 20 năm phiêu bạt, đến năm 1886 (có nguồn nói là năm 1889) thì ông đến Sài Gòn là thuộc địa cùa Pháp.

Tại Sài Gòn, Hoàng tử Myingun vẫn liên lạc với các nhóm người Miến, lãnh đạo các nhóm này chống lại quân Anh. Thời điểm này ông bí mật 2 lần về Miến Điện nhằm giám sát các cuộc chiến chống lại người Anh.

Người Pháp cho Myingun cùng gia đình ông ở Sài Gòn, dự định đến một lúc nào đó sẽ lợi dụng ông. Theo “Niên giám Đông Dương” qua các năm cho thấy Hoàng tử Myingun sống ở các nơi khác nhau chứ không phải chỉ một chỗ.

Myingun Min có 3 vợ trong đó có một người là người Việt. Ông mất vào 20.9.1921 tại Sài Gòn để lại gia đình và con cháu nơi đây.

Sự ra đời Dầu cù là Mac Phsu

Hoàng tử Myingun có cô con gái là Mac Phsu lấy chồng là Thong Ong Zan rồi sống ở Phnom Penh (Campuchia). Theo lời kể lại của hậu duệ sau này, thì một lần bà Mac Phsu đi ngang qua một ngôi chùa, có bà thầy bói ngồi dưới gốc cây cổ thụ đã ngoắc tay gọi bà Mac Phsu đến và nói rằng : “Sau này tên của bà sẽ được nổi tiếng khắp nơi”.

Chồng bà là ông Thong Ong Zan học được công thức làm dầu cao chữa bệnh từ hoàng gia Miến Điện của nhà vợ. Ông sang Singapore và gặp một người Singapore lai Miến Điện, hai người cùng học được kỹ thuật nấu dầu của một bác sĩ người Anh là Basythin. Hai người sau khi học xong thì đều hành nghề. Người Singapore đặt tên dầu của mình là Tiger Balm. Người Việt quen gọi là “dầu cù là Con Cọp Vàng” , lấy màu nâu đỏ làm màu đặc trưng

Ông Thong Ong Zan về Phnom Penh cùng vợ lập hãng dầu mang tên vợ là hãng dầu Cù Là Mac Phsu, dùng bí quyết làm dầu chủ yếu là từ nhà vợ và bổ sung cách nấu dầu của vị bác sĩ người Anh. Tên “Cù Là” là tện gọi xưa của Miến Điện



Gia đình giữ bí mật kỹ thuật làm dầu Cù Là. Ông Thong Ong Zan ra quy tắc chỉ truyền cho con gái chứ không truyền cho con trai, vì con trai khó giữ bí mật với vợ, vì thế mà trong 6 người con thì chỉ có 2 cô con gái được truyền nghề làm dầu Cù Là.

Khi gia đình chuyển đến Sài Gòn sinh sống, hai con gái là bà Ong Zanno và bà Phonlouvemak giúp cha mẹ làm dầu, hãng dầu vẫn tiếp tục hoạt động và ngày càng phát triển dù phải cạnh tranh với dầu Tiger Balm màu đỏ và dầu Nhị Thiên Đường.

Tổng đại lý của hãng dầu Cù Là Mac Phsu nằm ở đường Frère Louis (nay là đường Nguyễn Trãi, quận 1), gần nhà thờ Huyện Sĩ. Để hãng dầu phát triển, bà Mac Phsu đã quảng cáo sản phẩm của mình khắp miền nam với tên gọi dầu cù, dầu Gió hay dầu Bạc Hà chữa được “tứ thời cảm mạo”.


Quảng cáo dầu Mac Phsu ở chợ An Đông, Chợ Lớn, năm 1967.

Nổi danh khắp Đông Dương

Hãng dầu Mac Phsu nhờ có chất lượng nên phát triển khắp Đông Dương, gia đình bà Mac Phsu cũng trở nên giàu có ở Sài Gòn. Dầu Mac Phsu thân quen với dân chúng đến nỗi trẻ em miền Nam thời ấy hay hát câu : “ Bòn bon si cu la, bánh bao sữa hột gà, dầu cù là Mac Phsu…” trong trò chơi.


Quảng cáo dầu cù là Mac Phsu trên sông Sài Gòn, năm 1966-1968.

Thời đó, để dầu có mùi thơm, người ta thường dùng salisylate làm dầu nóng nhưng chất này khá độc nên chỉ có thể xoa ngoài da chứ không thể ngậm hay nuốt vào. Tuy nhiên dầu cù là Mac Phsu không dùng salisylate mà dùng tá dược bí mật nên có thể xức vào răng khi đau hay uống để chữa bệnh đau bụng. Đó là điểm đặc biệt của dầu Mac Phsu ở Đông Dương. Do vậy dù tá dược được ghi trên chai, nhưng công thức bí mật khiến không có sản phẩm nhái và giả trên thị trường.

Những năm 1940, hãng dầu Cù Là Mac Phsu liên tục lập thêm các xưởng sản xuất mới ở Sài Gòn nhằm đáp ứng nhu cầu người dùng mà không hề có đối thủ cạnh tranh, dù thời đấy có nhiều loại dầu cao trên thị trường.

Khi bà Mac Phsu cùng chồng già yếu thì việc vận hành hãng dầu trao cho hai cô con gái. Một người con là bà Ong Zanno lấy chồng người Việt rồi sinh được 5 người con gái nhưng chỉ truyền nghề lại cho 2 con là Lê Kim Nga và Lê Kim Phụng.

Những năm 1960 dầu Cù Là Mac Phsu phát triển đỉnh điểm, số lượng làm ra không đủ để bán. Các xưởng phải làm đến 9 giờ tối, mỗi ngày cho ra gần 10.000 chai dầu.

Gian nan khôi phục lại dầu Cù Là xưa

Sau biến cố năm 1975, hãng dầu Cù Là Mac Phsu phải ngừng hoạt động, đến năm 1979 thì chính thức đóng cửa.

Năm 1993, hai chị em bà Nga và bà Phụng muốn khôi phục lại dầu Cù Là xưa, nhưng do điều kiện khó khăn thiếu thốn nên phải hợp tác cùng một công ty Đông y ở Gò Vấp, đặt tên cho sản phẩm là “Sư tử cá”, nhưng chỉ được 5 năm thì phải ngừng hoạt động.

Đến năm 2010 khi hai chị em đã nghỉ hưu, có thời gian hơn nên quyết định khôi phục lại dầu Cù Là. Hai chị em thế chấp căn nhà duy nhất vay tiền ngân hang nhằm phát triển sản phẩm.

Sau nhiều nỗ lực, đến tháng 6/2014, mẻ dầu đầu tiên được tái sinh và đươc đặt tên là “Cao xoa Con Công”.



Sở dĩ lấy tên này bởi vì Công được xem là biểu tượng của đất nước Miến Điện. Cao xoa Con Công có màu xanh lá tươi mát, chất lượng cao nên được thị trường đón nhận. Cao xoa Con Công phát triển nhưng gặp khó khăn khi cần tìm nhà phân phối để đưa được sản phẩm ra thị trường. Hậu duệ của Hoàng tử Myingun hầu hết đầu thành đạt, trở thành kỹ sư, bác sĩ và đều sống ở nước ngoài, chỉ có chị em Kim Nga, Kim Phụng cùng hai em gái nữa là sống ở Việt Nam. Hai chị em bà Nga và bà Phụng ở tuổi 70 lại không lập gia đình nên không có ai giúp phát triển mặt hàng Cao xoa Con Công. Bí quyết làm dầu Cù Là Mac Phsu có nguy cơ thất truyền

Dầu Cù Là Nguyễn An Ninh

Còn một câu chuyện nữa về “anh em” của dầu Cù Là Mac Phsu. Đó là trong những năm cuối đời ở Sài Gòn, Hoàng tử Myingun bị người Pháp lấy lại nhà và cắt trợ cấp, phải đến sống nương nhờ ở khách sạn Chiêu Nam Lầu do chí sĩ yêu nước Nguyễn An Khương chiêu hiền đãi sĩ. Người quản lý ở đây là bà Xuyến.

Năm 1921, thấy mình sức đã yếu và khó qua khỏi, Hoàng tử đã tạ ơn bà Xuyến cưu mang mình bằng cách tặng cho bà toa thuốc dầu cao của hoàng gia Miến Điện. Đây cũng chính là bài thuốc mà Hoàng tử đã truyền lại cho con gái là bà Mac Phsu.



Hiệu quả trị liệu hiệu nghiệm khiến dầu của ông Ninh rất đắt hàng, ông đem bán khắp lục tỉnh. Ở Hóc Môn – Bà Điểm có bài thơ rằng :

Cù là hay lắm mấy ông ơi
Dầu hiệu An Ninh thí nghiệm rồi
Quệt thử bên hông, chùm mật nhảy
Uống vào trong bụng, huyết tim dôi…


Dầu cù là sư tử của Công ty Thoại Dư Đường Chợ Lớn, Nguyễn An Ninh bán ở chợ Bến Thành ( Công Luận báo, 2.3.1938, Thư viện Quốc gia Việt Nam)

Về chuyện bán dầu của ông Nguyễn Văn Ninh, trong cuốn “Hội kín Nguyễn An Ninh” có mô tả rằng :

Ngày nay có một con đường nhỏ dài 100 mét mang tên Nguyễn An Ninh ở chợ Bến Thành (Sài Gòn), chính nơi đây xưa kia ông Ninh đã lập gian hàng bán Dầu Cù trong những ngày cận tết.

Ông lập làm gian hàng vốn số tiền 10 đồng rồi gắn biển hiệu “Năm nay còn ăn tết được” trong thời điểm người dân còn nghèo xơ xác không sắm tết được nhiều.

Ông Ninh và người bạn rao bán dầu, nhờ có tiếng nên người dân đổ xô đến mua, chỉ trong buổi sáng toàn bộ 500 lọ dầu đã được bán hết.


Sài Gòn năm 1931, bến xe trên đường Rue Schroder (Phan Chu Trinh ngày nay) trước cửa Tây chợ Bến Thành. Nơi đây trước bến xe ngay chợ, Nguyễn An Ninh đã rao bán dầu cù là cùng với Phan Văn Hùm . Ảnh: Mạnh Hải

Trần Hưng 👉 Phần 1 ; Phần 2 👈 )

Tuesday, January 3, 2023

Tình Yêu Và Huyền Thoại - Nhạc sĩ Văn Minh Trí



Ca khúc "Tình Yêu Và Huyền Thoại" là một trường hợp đặc biệt của nhạc trữ tình Việt Nam. Thật khó hiểu vì một ca khúc đẹp từng từ ngữ, từng giai điệu như vậy, nhưng một thời gian dài ghi tên nhạc sĩ sáng tác là “Khuyết Danh”. Trước năm 1975 chỉ có duy nhất một phiên bản của ca sĩ Thanh Lan hát, và sau 1975 hình như chỉ có Thái Hiền, Như Mai, Phi Khanh và Trịnh Vĩnh Trinh hát lại. Có một số nơi ghi tên nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng không có tài liệu xác minh, hơn nữa đây cũng không giống với nét nhạc của cố nhạc sĩ Minh Kỳ.



Thanh Lan
(Album trước 1975 👉 Tình Yêu và Mùa Đông - Nhật Trường Cassette6 👈)

Tình Yêu Và Huyền Thoại có ca từ trong sáng, mang tính thần thoại, ở đó không có thương đau, không dằn vặt, day dứt như hầu hết những ca khúc trữ tình buồn của nhạc Việt, mà chỉ có duy nhất một tình yêu vĩnh cửu tồn tại đến muôn đời.

Cách đây vài năm, có một độc giả tên là Mỹ Dung sinh sống ở New Zealand gửi đến cho chúng tôi thông tin về một nhạc sĩ tên thật là Văn Minh Trí, sinh năm 1940, ông học sư phạm ở Sài Gòn khoá 1963-1967 và làm sau đó về dạy môn Việt Văn ở trường Trung Học An Xuyên tỉnh Cà Mau.

Có một độc giả khác là Việt Hùng Trịnh gửi đến hình ảnh tờ học bạ có ghi dòng nhận xét của giáo sư Văn Minh Trí đến học trò như sau:


Ông dùng bút danh là Văn Trí với ca khúc Hoài Thu nổi tiếng qua giọng hát Thanh Thuý, và nhạc sĩ Văn Minh Trí cũng là tác giả của ca khúc “khuyết danh” Tình Yêu Và Huyền Thoại, sáng tác năm 1968. Sau đây là bản nhạc được nhạc sĩ ký tên đề tặng:



Sau 1975, ông sống lặng lẽ ở vùng New Zealand xa xôi, vắng bóng cộng đồng người Việt, không tham gia gì đến văn nghệ hải ngoại nên rất người biết đến ông. Vì vậy cuộc sống của nhạc sĩ Văn Minh Trí kín tiếng và âm thầm, cũng giống như chính ca khúc Tình Yêu Và Huyền Thoại của ông vậy.

Tác giả Thuan Vuong có những nhận xét rất hay về ca khúc này như sau:

“Bài hát làm cho mọi u sầu, ẩn ức, tủn mủn, giành giật kiểu các bài tình yêu khác đều lùi ra. Tình Yêu Và Huyền Thoại khiến tất cả trời đất sáng bừng lên, hoang dại hơn, lung linh như một bức tranh Hy Lạp, một cảm xúc mâu thuẫn từng âm thanh vẽ ra trước mắt.

Những thi ảnh “bầy thỏ ngoan”, “dã điểu”, “bầy quạ đen” xuất hiện trong một bản tình ca Việt, đem lại một không khí hương xa, một sự lạ lẫm và gợi nhiều suy tưởng. Trong một huyền thoại mọc cánh, tìm kiếm, rồi trốn mất, rồi lại ve vuốt soi sáng rồi lại sợ hãi mà lặn đi. Những gần gũi ân ái mở rộng đồng bằng mật ngọt hoa thắm rồi bỗng chốc sa mạc hoang vu kinh người tiếng quạ đen lanh lảnh chế giễu. Lãng mạn bồng bềnh hái sao trời cài lên tóc đến dục cảm điếng người trong sự tư tình một tảng đá không lên rêu. Đa diện, nhiều chiều kích, cảm và dục, đẹp và sợ, cao vời và sâu thẳm, tất cả quay trong một điệu luân vũ 3/4, đó mới là tình yêu”.

Hãy cùng xem lại lời bài hát rất đặc biệt đầy những hình ảnh đẹp như trong một bức tranh:

Nàng mọc cánh bay đến nơi chân trời
Chàng đuổi theo trên chuyến xe cuộc đời
Nàng vươn tay hái sao trời đỉnh núi
Kết lên tóc mây như đôi mắt tình yêu.

Chàng cầm đuốc soi sáng tâm tư nàng
Bầy thỏ ngoan đi trốn đôi tay chàng
Hồn chết đuối nơi sông dài yêu đương
Bóng đêm đứng trông chiều khóc ai sương mờ

Trên đồng bằng ân ái, môi nàng là hoa thắm
Cho mật ngọt tình yêu, đam mê đừng trốn mất
Mây mùa hè thiêu đốt, sa mạc lòng rực cháy
Chim rừng về hỏi lá, đàn quạ đen cười rũ.

Nàng là đá bao tuổi xanh hỡi nàng
Chàng là rêu ôm đá mơ thiên đàng
Bằng đôi chân mang linh hồn dã điểu
Đá xanh chở rêu về núi xa tự tình.

Lời bài hát này được chép lại từ bản nhạc của chính tác giả. Khi nghe lại 5 phiên bản của Thanh Lan, Thái Hiền, Như Mai, Phi Khanh và Trịnh Vĩnh Trinh, có thể thấy chỉ có Thanh Lan và Thái Hiền là hát gần đúng nhất, chỉ sai 1 chữ duy nhất:
Chàng cầm đuốc soi sáng tâm tư nàng” thì lại hát thành “Chàng cầm đuốc soi sáng tâm tư chàng”.


Thái Hiền
(Album 
👉 Hoa Cài Mái Tóc - Thúy Nga Paris Cassette4 👈)

Phiên bản của Như Mai và Phi Khanh cũng hát sai rất nhiều, nhưng sai nghiêm trọng nhất vẫn là bản của Trịnh Vĩnh Trinh. Mời các bạn nghe lại các phiên bản thu âm sau 1975:
 


Trịnh Vĩnh Trinh
(Album 
👉 Buồn Vương Mắt Em - Khánh Hà CD18 👈)

Dù bản thu âm của cô Trinh hay và hát trong trẻo nhất, phù hợp với bài hát, nhưng cô hát sai ở những chữ rất quan trọng của bài hát:

Trên đồng bằng ân ái”, hát sai thành “Trên đồng vàng

Mây mùa hè thiêu đốt, sa mạc lòng rực cháy” hát sai thành “sao mặc lòng rực cháy”, làm cho bài hát có ý nghĩa thoát tục này lại quay về mang những nét tủn mủn của yêu đương hờn giận thông thường.

Đàn quạ đen cười rũ” hát sai thành “đàn thỏa lên cười rũ”, làm cho câu hát không có ý nghĩa.

Đặc biệt là câu rất hay là “Nàng là đá bao tuổi xanh hỡi nàng” hát sai thành câu vô nghĩa là “Nàng là đá ta tuổi xanh hơn nàng”.

Đá xanh chở rêu về núi xa tự tình” hát sai thành “Đá xanh chở rêu về núi ta tự tình.”



Phi Khanh
(Album 
👉 Dạ Vũ 2 - Majestic CD 👈 )



Như Mai
(Album 
👉 Dạ Vũ Tình Hè - Người Đẹp Bình Dương CD30 👈)

Đông Kha

Tuyệt Phẩm Tình Lính - Tuấn Vũ - Hải Đăng CD16




Bản 1 - 5


Bản 6 - 10


(sưu tầm từ internet)