Tuesday, December 20, 2022

Giáng Sinh - Hải Âu Cassette32




Mặt A


Mặt B


(sưu tầm từ internet)

Gửi Người Mình Yêu - Hồ Ngọc Hà CD




Bản 1 - 6


Bản 7 - 12


(sưu tầm từ internet)

Nhạc Tình Muôn Thuở 4 - Tình Là Giấc Mơ - Khánh Hà CD64




Bản 1 - 5


Bản 6 - 10


(sưu tầm từ internet)

Enter Nous - Khi Mình Yêu: 20 năm sự nghiệp của Chimène Badi






RFI - Tuấn Thảo

Năm 2022 đánh dấu đúng hai thập niên giọng ca Chimène Badi xuất hiện trong nghề sân khấu. Tại Pháp, cô thành danh vào đầu những năm 2000, sau khi tham gia vào một cuộc thi hát truyền hình (kênh M6). Bài hát ăn khách làm nên tên tuổi của Chimène Badi là nhạc phẩm ''Entre Nous'', từng được tác giả Lan Anh đặt thêm lời Việt thành tình khúc ''Khi mình yêu''.

Đầu thập niên 2000, làng nhạc Pháp có hai phong trào đang nở rộ : các vở ca nhạc kịch và các cuộc thi hát phát sóng truyền hình. Cũng như bao nghệ sĩ cùng trang lứa, Chimène Badi đã lớn lên với giấc mơ danh vọng ấp ủ từ lâu. Khi tham gia các buổi casting thử giọng, cô dung hòa cả hai vế : mỗi lần thi hát, Chimène thường hát lại nhạc phẩm ''L'envie d'aimer'' (Khao khát yêu thương) ca khúc chủ đề của vở nhạc kịch ''Les Dix Commandements'' (Mười điều răn) của nam ca sĩ quá cố Daniel Lévi. Chính với ca khúc này, Chimène Badi đã được tuyển vào ''Popstars'', một chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng tại Pháp thời bấy giờ.

Sinh năm 1982 trong một gia đình người Pháp gốc Algérie tại vùng ngoại ô Paris, Chimène Badi từ thuở thiếu thời, đã nuôi mộng trở thành ca sĩ, cho dù cô không được đào tạo qua các lớp thanh nhạc. Chimène rèn luyện chất giọng của mình chủ yếu là nhờ tự học qua băng đĩa, hát lại các bản nhạc xưa của Piaf hay của Aznavour. Sau khi thi trượt bằng tú tài, Chimène tạm gác chuyện học hành sang một bên, tự cho mình hai năm để khởi nghiệp và tìm kiếm hợp đồng ghi âm. Thời gian đầu cô làm nhiều nghề để kiếm sống, ban đêm đi hát tại các quán nhạc, ban ngày tham gia các buổi casting tuyển lựa tài năng mới.


Khi Mình Yêu - Khánh Hà



Ghi âm 8 album trong 20 năm sự nghiệp

Năm Chimène tròn 20 tuổi, cô được tuyển vào chương trình truyền hình "Popstars" của Pháp. Tuy có đầy năng khiếu, nhưng sở trường của Chimène vẫn là hát solo các bản nhạc nhẹ, trong khi tiêu chuẩn chấm thi của ban giám khảo thời bấy giờ là tuyển lựa nhiều giọng ca mới để thành lập một nhóm nhạc trẻ đúng theo tên gọi của chương trình là ''Popstars'' (Các ngôi sao nhạc pop). Rốt cuộc ban giám khảo đã không chọn Chimène làm một trong những thành viên của nhóm. Tuy nhiên, chất giọng đặc trưng đầy sức thuyết phục của Chimène Badi lại lọt vào tai giới sản xuất đĩa hát. Nhờ vậy, Chimène ký được hợp đồng ghi âm đầu tiên trong đời.

Vào mùa đông năm 2002, Chimène Badi rời Pháp sang Québec (Canada) để thực hiện các bản ghi âm cho album đầu tay, với nhóm sản xuất của tác giả Rick Allison chuyên làm việc với nữ danh ca Lara Fabian.

Tập nhạc đầu tay với ca khúc chủ đề ''Entre Nous'' (Giữa đôi ta) phát hành vào đầu năm 2003, trở thành một trong những album ăn khách nhất trong năm, giúp cho sự nghiệp của Chimène Badi cất cánh ngoạn mục, ngay từ lúc mới vào nghề ở tuổi đôi mươi. Nhạc phẩm '''Entre Nous'' sau đó đã có thêm nhiều phiên bản ghi âm, kể cả phần trình bày của Grégory Lemarchal. Trong tiếng Việt, bài này cũng được nhiều nghệ sĩ ghi âm lại trong đó có các ca sĩ Khánh Hà hay Hồ Ngọc Hà.

Sự thành công bước đầu này mở đường cho Chimène Badi hợp tác sau đó với nhiều tên tuổi lớn. Cô trở thành ca sĩ được mời biểu diễn thường xuyên trong các show truyền hình. Chimène được dịp hát chung (nhạc phẩm Je te promets) với Johnny Hallyday nhân vòng lưu diễn các sân vận động, mừng sinh nhật 60 tuổi của nam ca sĩ. Chimène cũng ghi âm một bản song ca với danh ca Michel Sardou (nhạc phẩm ''Le chant des hommes''). Nhờ vào bản ghi âm lại của bài hát ''Je viens du Sud'' (Người từ phương Nam) của Michel Sardou, Chimène Badi lập kỷ lục số bán đạt mức đĩa kim cương với album phòng thu thứ nhì. Ngoài việc giành lấy hạng đầu thị trường Pháp, Chimène còn được đề cử danh hiệu Tài năng mới xuất sắc nhất khối Pháp ngữ.

Nhiều lần thi trượt nhưng sau đó lại về đầu

Ghi âm các bản song ca, đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ trứ danh tên tuổi lớn trở thành một trong những ưu điểm của Chimène Badi. Sau khi thành công với Michel Sardou vào năm 2007, Chimène lặp lại thành tích này khi được mời ghi âm (nhạc phẩm ''Say you Say me'') với ca sĩ kiêm tác giả người Mỹ Lionel Richie vào năm 2012. Đó cũng là thời điểm cô thành công với album chuyên đề danh cho hai dòng nhạc ''Gospel & Soul'' (Phúc âm và Soul). Thành công này dẫn đường cho Chimène ghi âm phiên bản tiếng Pháp ca khúc chủ đề của ''Cats'' khi vở nhạc kịch này được đưa sang Paris biểu diễn vào năm 2016. Sau đó nữa, cô hợp tác với nhà sản xuất Đức Alex Christensen để ghi âm ca khúc ''Voyage Voyage'' (nguyên tác của Desireless) với dàn nhạc giao hưởng Berlin.

Trong vòng 20 năm sự nghiệp ca hát, Chimène đã ghi âm 8 album phòng thu và hơn 10 album hợp tác với nhiều ca sĩ khác (Roch Voisine, Dany Brillant, Amaury Vassili …..). Thế nhưng trong số các dự án ấp ủ từ nhiều năm qua có album ''Chimène chante Piaf'' phát hành vào mùa thu năm nay, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày giỗ của Édith Piaf (1963-2023) thông qua một vòng lưu diễn trên các sân khấu Pháp kể từ đầu năm tới. Chuyện ''Chimène hát nhạc Piaf'' cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên cho lắm, vì đã từ lâu cô thường hay hát lại những ca khúc của bậc tiền bối.

Tuy nhiên khách hâm mộ tinh ý sẽ nhận thấy rằng thời còn non tay nghề, Chimène tránh đụng đến những bài hát nói về kiếp người quá đỗi thương đau, hứng chịu nhiều mất mát thiệt thòi (Mon Dieu, Les Amants d'un jour). Giờ đây, với kinh nghiệm sân khấu, Chimène có thể trình bày những bản nhạc được cho là ''khó trị'' của Piaf, người hát không những cần có kỹ thuật và chất giọng, mà còn cần có đủ độ dày dặn từng trải để có thể lột tả trọn vẹn ý tứ.

Đối với Chimène Badi, năm 2022 đánh dấu cùng lúc hai sinh nhật : 40 năm tuổi đời và 20 năm tuổi nghề. Trên đường đời, Chimène đã nhiều lần thi trượt (rớt bằng tú tài và bị loại khỏi chương trình "Popstars") thế nhưng trong cái rủi lại có cái may. Tuy không về đầu cuộc thi, nhưng nhờ nghị lực phấn đấu, cô lại vượt trội hơn so với các thí sinh khác. Sự nghiệp của Chimène Badi hứa hẹn nhiều dự án mới trong thời gian tới, chừng nào tình thương nơi công chúng còn vỗ về, chừng nào giọng hát nội lực vẫn còn nhiều đam mê.


Khi Mình Yêu - Hồ Ngọc Hà


RFI - Tuấn Thảo


Mời bạn ghé chân 👉 Góc Vườn Âm Nhạc RFI của Tuấn Thảo 👈 để nghe thêm những bài ca nổi tiếng

Monday, December 19, 2022

Những cuộc “cách mạng” gắn liền với lịch sử xe đạp


Giới quý tộc Anh giải trí với chiếc xe đạp đầu tiên "Draisienne", tại Luân Đôn, năm 1819.

Châu Âu có 19 tuyến xe đạp EuroVelo xuyên 42 quốc gia, từ bán đảo Iberia đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ Hy Lạp ngược lên cực bắc Na Uy (1). Pháp có đến 25.670 km dành cho xe đạp với 58 lộ trình, trong đó có 10 lộ trình EuroVelo, tính đến tháng 01/2022 (2). Xe đạp trở nên phổ thông hơn kể từ đại dịch Covid-19 và cuộc khủng hoảng năng lượng. Trải qua hơn một thế kỷ, xe đạp vẫn không ngừng biến động với nhiều cuộc “cách mạng” lịch sử.

Tiếng Pháp có hai từ để nói về xe đạp : “vélo” và “bicyclette”. Tuy nhiên, trên đài France Culture ngày 16/06/2020, kinh tế gia Frédéric Héran, tác giả cuốn Retour de la bicyclette (Xe đạp trở lại, NXB La Découverte), giải thích “hai từ này hoàn toàn tương đương nhau. “Bicyclette” có vẻ sang trọng hơn, thành thị hơn một chút, còn “vélo” mang tính thể thao hơn”.

Cuộc cách mạng công nghệ

Xe đạp xuất phát từ nhu cầu cấp bách sau một năm 1816 mất mùa vì thiên tai ở châu Âu và Bắc Mỹ, ngựa bị giết thịt làm thức ăn, nên cần nhanh chóng tìm gia một phương tiện di chuyển thay thế xe ngựa. Sau này, xe đạp là thành quả của cả một thế kỷ cải tiến không ngừng về tốc độ và kỹ thuật để thỏa mãn những nhu cầu mới, theo tóm tắt của kinh tế gia Frédéric Héran :

“Bối cảnh thời đại Khai sáng rất thuận lợi về mặt ý tưởng, với mong muốn thúc đẩy các phương tiện di chuyển để tăng vận tốc, vốn là một phát minh của thế kỷ XVIII. Trước tiên, cuộc cách mạng công nghiệp nở rộ vào lúc đó. Tiếp theo, từ nhiều thập niên qua, người ta tìm cách làm nhẹ bớt các phương tiện đi lại. Một cỗ xe ngựa nặng 3 tấn, thường cần đến 2 hoặc 4 con ngựa để kéo. Chính trong bối cảnh đó, ý tưởng giữ thăng bằng trên hai bánh xe chuyển động được cho là đáng tin cậy”.


La "Draisienne", thủy tổ của xe đạp, được người Pháp đặt tên cho chiếc "laufmaschine" của nhà phát minh người Đức - nam tước Karl Von Drais năm 1817. Bản sao được triển lãm tại Bảo tàng Munich (Deutsches Museum de Munich). © Flickr / Thomas Bersy

“Velocipede”, thủy tổ của xe đạp ngày nay, được nam tước người Đức Karl Drais chính thức giới thiệu ngày 12/07/1817. “Veloce” - nhanh, “pède” - chân ý muốn nói “để con người đi nhanh hơn”. Được cấp bằng sáng chế ở Pháp năm 1818 với tên gọi “draisienne”, chiếc xe nhanh hơn cả xe ngựa, nối hai thành phố cách nhau 14 km trong một tiếng, đã thu hút hàng nghìn người hiếu kỳ ở vườn hoa Luxembourg, Paris. Thế nhưng, dù dai sức đến đâu, đẩy xe suốt 25 km cũng khiến người sử dụng kiệt sức, đau chân.

Phải hơn 20 năm sau mới xuất hiện phát minh mang tính cách mạng : Bàn đạp được người thợ rèn Kirkpatrick MacMillan ở Scotland lắp ở bánh trước, vào năm 1839 nhưng chỉ là kiểu đẩy đi đẩy lại, rất nhanh mệt, khác kiểu đạp tròn hiện nay. Lại phải chờ thêm hơn 20 năm nữa, bàn đạp mới được lắp chính giữa bánh xe trước và đạp tròn, nhờ cải tiến năm 1861 của hai cha con người Pháp, Pierre và Ernest Michaux, khi sửa chiếc “draisienne” bị hỏng. Phát minh này giúp nhà Michaux phất lên như diều gặp gió. Khoảng 400 xe đạp “Michaudine” được xuất xưởng năm 1865. Đến năm 1867, sau thành công ở Triển lãm Hoàn cầu Paris, nhà sản xuất ngập trong đơn đặt hàng, thuê đến 500 công nhân để sản xuất khoảng 200 xe mỗi ngày.

Xe đạp trở thành vật phức tạp nhất được chế tạo thời bấy giờ cùng với máy khâu và động cơ hơi nước. Kinh tế gia Frédéric Héran cho biết nhiều nước châu Âu lao vào cuộc đua cải tiến xe đạp : “Anh, Đức và Pháp là những nước lớn duy nhất có khả năng công nghiệp và có đủ kĩ sư để đảm nhiệm dần cải tiến xe đạp. Cả ba nước cạnh tranh điên cuồng trong khoảng 30 năm để phát triển xe đạp hiện đại với hàng trăm bằng sáng chế được đăng ký”.

Phương tiện giải trí của giới nhà giầu ưa tốc độ

Giới nhờ giàu mê tốc độ đã tổ chức nhiều cuộc đua xe ngay từ năm 1868. Và cũng vì những tay đua mê tốc độ mà xe “grand bi” ra đời năm 1870, rất thịnh hành trong các cuộc đua tại Anh, thậm chí là đua với ngựa. Tuy nhiên, xe không có tương lai do quá nguy hiểm. Đường kính bánh trước có thể lên đến 1,5 mét vì bánh càng lớn, tốc độ càng nhanh nhờ mỗi vòng đạp. Để trèo lên được yên xe và giữ thăng bằng, người lái phải uyển chuyển như diễn viên xiếc. Cũng trong giai đoạn này, xe đạp bắt đầu có lốp đặc bằng cao su. Năm 1877, kĩ sư người Anh James Starley phát minh ra gióng xe bằng ống thép, bền hơn.

Hai năm sau, Henry John Lawson là người đầu tiên lắp bộ xích vào xe, kết nối chuyển động của bàn đạp với bánh sau vào năm 1879 và bắt đầu có hình thù giống xe ngày nay dù bánh trước vẫn lớn hơn. Xe đạp không ngừng được cải tiến để gọn nhẹ, thoải mái và nhanh hơn. Năm 1884, nhà phát minh người Anh John Kemp Starley (cháu của James Starley) thu nhỏ kích thước bánh trước bằng bánh sau để xe vững hơn và lắp hệ thống bàn đạp, xích nối bánh sau. Người lái xe ngồi ở phía sau, gần như không thể ngã về phía trước, cho nên xe của ông được gọi là “Rover Safety” (xe đạp an toàn).

Từ lúc này, xe đạp hiện đại ra đời, hai bánh có kích thước như nhau, dùng xích, bánh xe lắp lốp hơi có thể tháo ra được. Săm hơi cũng là một phát minh lớn giúp cho xe đạp thoải mái hơn rất nhiều, nhất là vào lúc đường xá còn xấu, lát đá, đầy ổ gà và rãnh do vết xe. Ngoài ra phải nhắc đến một phát minh mang tính cách mạng khác là bộ điều chỉnh tốc độ. Trên đài France Culture, sử gia Philippe Tétart, giảng viên trường Đại học Maine, chuyên về lịch sử thể thao, giải thích :

“Thay đổi vận tốc là một phát minh có từ lâu, ngay từ năm 1860. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau về mặt kỹ thuật công nghiệp và do các định chế thể thao từ chối, bộ chuyển tốc độ chỉ được phát triển trong những năm 1920-1930. Lý do chính là do lịch sử xã hội của xe đạp gắn liền với lịch sử của những cuộc đua xe, người ta không muốn các tay đua lợi dụng hệ thống nào đó để đạp xe bớt khó nhọc hơn. Cho đến những năm 1920, mọi tay đua nghiệp dư hay chuyên nghiệp, hoặc chỉ là người đạp xe đi dạo, khi đến chân một đoạn dốc, vẫn phải dừng lại, đổi bánh xe sau để leo dốc thoải mái hơn”.

Từ xe công vụ đến tự do của phụ nữ

Tại Pháp, ngay từ năm 1900, xe đạp trở thành phương tiện di chuyển của cảnh sát. Họ được gọi là “Hirondelle” (chim én) vì đi xe có thương hiệu cùng tên do công ty Manufrance sản xuất tại Saint-Etienne và áo choàng của họ bay trong gió giống cánh én.

Tại kinh đô Ánh sáng, phụ nữ không thử ngay những mẫu xe đầu tiên, giới khoa học thì cho rằng xe đạp quá nguy hiểm cho phái đẹp. Không lâu sau, xe đạp được coi là phụ kiện thời trang của giới quý tộc, là dấu hiệu của thanh lịch, thể hiện đẳng cấp ở chốn thượng lưu. Phải chờ đến cuối thế kỷ XIX, xe đạp mới trở thành phương tiện phổ biến cho phụ nữ sau cuộc đấu tranh bền bỉ xóa bỏ định kiến về hình ảnh người phụ nữ đạp xe. Năm 1895, nhà đấu tranh vì nữ quyền người Mỹ Susan B. Anthony phát biểu : “Xe đạp đã làm nhiều hơn thế cho sự giải phóng của người phụ nữ, hơn bất kỳ điều gì trên thế giới”. (3)

Dần dần, xe đạp trở thành phương tiện di chuyển bình dân do giá bán giảm 10 lần trong những năm 1895-1935. Theo sử gia Philippe Tétart, sự phát triển và phổ biến của xe đạp gắn liền với lịch sử xã hội, với cuộc sống của người công nhân :

“Năm 1890, chỉ có khoảng 50.000 xe đạp ở Pháp, nhưng đến cuối thế kỷ XIX thì đã vượt ngưỡng 1 triệu xe và có gần 3,5 triệu xe vào khoảng năm 1914. Ai là người mua xe đạp ? Phần lớn là giới công nhân và người dân sống ở nông thôn, khác hẳn với đối tượng khách hàng ban đầu là giới tinh hoa. Có thể thấy sự trùng khớp thực sự, không phải về mặt thời gian, giữa thực trạng tầng lớp công nhân - bắt đầu trở thành một phần quan trọng trong giới làm công ăn lương ở Pháp - với việc sở hữu một chiếc xe đạp giúp thuận tiện đi làm. Một ví dụ điển hình là vào năm 1936, thay vì ưu tiên yêu cầu được nghỉ phép có lương, nhân viên của công ty Renault lại đòi xây nhà gửi xe đạp có mái che để tránh mưa”.


Xe đạp Grand bi

Niềm đam mê tốc độ tiếp tục được thể hiện qua những cuộc đua xe đạp, giờ được chính nhà sản xuất Peugeot tổ chức để khẳng định tính ưu việt của nhà sản xuất. Sử gia Philippe Tétart giải thích :

“Ngay những năm 1880, Peugeot đã bắt đầu sản xuất ở ngoại ô Montbéliard, ban đầu là vài chục, sau đó là vài trăm, rồi vài nghìn bộ khung và xe đạp. Nhà sản xuất xe hơi đầu tư đến mức tự lập ra những đường đua riêng, tổ chức các cuộc tranh tài cho phép đông đảo người xem có cảm giác như tham gia vào cuộc đua. Dĩ nhiên Peugeot được lợi khi trở thành một trong những thương hiệu lớn nhất trong thời kỳ giữa hai Thế Chiến, đặc biệt là nhờ vào chiến lược huy động đông đảo người đến các cuộc tranh tài, điều mà không phải thương hiệu nào cũng làm được vào đầu thế kỷ”.

Cuộc đua bắt đầu vượt ngoài khuôn khổ của nhà sản xuất khi Tour de France - Cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp - ra đời. Sự kiện thể thao nhanh chóng trở thành địa điểm vận động chính trị mà tướng Charles de Gaulle là người đầu tiên áp dụng. Sử gia Philippe Tétart giải thích :

“Hoan nghênh Tour de France, phải tiếp xúc được với đám đông, gặp gỡ các tay đua, bắt tay những người đến xem. Về điểm này, tướng De Gaulle là người đầu tiên dùng cách làm rõ ràng này. Xe đạp trở thành công cụ truyền thông chính trị. Trong thời kỳ giữa hai cuộc Thế Chiến, các chính trị gia thường hướng đến bóng đá, môn thể thao hàng đầu để họ bày tỏ gắn bó với hy vọng thu được ủng hộ”.

Cũng vì hướng đến tốc độ mà xe đạp dần bị loại khỏi cuộc đua, thay vào đó, kể từ năm 1945, là ô tô, nhanh hơn, tiện nghi hơn, đẳng cấp hơn. Xe đạp tiếp tục biến động theo dòng lịch sử, theo kinh tế gia Frédéric Héran trên đài Europe 1 :

“Trong những năm 1950-1960, người ta thấy việc sử dụng xe đạp sụt giảm nghiêm trọng ở nhiều nước châu Âu, kể cả ở Hà Lan, giảm 3 lần ở Hà Lan, 6 lần ở Pháp. Rồi đến cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1994, người ta thấy xu hướng đi xe đạp dần dần trở lại, bắt đầu từ Hà Lan, Đức, tiếp theo là Đan Mạch, rồi đến Pháp vào khoảng những năm 1990 và đặc biệt là từ những năm 2000”.

Hàng loạt cuộc đình công tại Pháp, tiếp theo là ba năm đại dịch Covid-19 và cuộc khủng hoảng năm lượng, xe đạp trở lại đông đảo ở các thành phố lớn. Trong năm 2021, người dân Pháp mua khoảng 2,7 triệu xe đạp mới, nhiều hơn cả mua ô tô. Ông Virgile Caillet, đại biểu của tổ chức Union Sport & Cycle, cho rằng “Pháp đang khám phá lại thực tế xe đạp là phương tiện di chuyển hàng ngày và là một công cụ thực sự cho xã hội”.

RFI-Thu Hằng