Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết… khiến tôi ngờ… bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.
Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài Gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.
Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:
Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…
(Nguyễn Tất Nhiên)
Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.
Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:
…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,
Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ
Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ
Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…
Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là… ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…” Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”
Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.
Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học..
Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.
Ca sĩ Ái Liên - Après Toi, Je N'aurai Plus D'amour (Tino Rossi)
Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau..
Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.
Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…
Giai nhân nan tái đắc
Trót yêu hoa nên dan díu với tình
Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh
Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…
Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô… đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi..
Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa. Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “à la mode” hái hoa, giẫm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.
Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn… tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập. Những năm sau 75, trong Sài Gòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.
Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ… cám ơn. Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ… cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.” Tôi cũng nhận ra sự “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.
Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số. Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.
Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.
Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn… di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.
Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.
Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…” Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.
Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.
Vũ Thế Thành
Hà Nội cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất bạn bè thôi
Hà Nội cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất tình nguời thôi
Hà Nội cái gì cũng buồn, buồn thuơng đến thế mùa Thu ơi
Hà Nội cái gì cũng vui, rủ nhau ra phố bia hơi vỉa hè
Hà Nội mùa mưa, bạn bè tuổi thơ, lội dòng sông phố nô đùa
Hà Nội mùa đông, quán đê thơm nồng, mùi ngô nuớng xém
Hà Nội là em, vụng dại thầm kín, một thời thiếu nữ đi tìm
Hà Nội mẹ tôi,vấn khăn nâu sồng, một đời áo cũ thuơng con,mắt đỏ thờ chồng
Hà Nội lúc nào cũng bụi, cả nhà ra ngắm hồ Guơm xanh
Hà Nội tiết trời giá lạnh, chỉ chợt êm ái bàn tay anh
Hà Nội có lần khóc thầm chạy lên thang gác bóng mẹ còn đâu
Hà Nội có gì rất đau, nguời ta yêu dấu không bao giờ trở lại
Hà Nội hồ Guơm, bình ruợu ngàn năm, để lại bên phố nghiêng buồn
Hà Nội nghìn thu, lối xưa xe ngựa đành lòng thuơng nhớ
Hà Nội đầu ô, một chiều đầy gió, một nguời không nỡ quay về
Hà Nội lòng tôi, giấc mơ xa vời của nguời xa quê. Ai ơi, sống gửi thác về.
Hiếm có món ăn nào trùng tên nhưng lại khác nhau về hình thức, cách chế biến, hương vị tại mỗi tỉnh thành như bánh bèo.
Bánh bèo Hải Phòng
Có hình dạng khá giống bánh đúc và ăn giống bánh giò nhưng cứng hơn. Bánh được chế biến từ bột gạo với nhân bánh là hành phi, thịt lợn, mộc nhĩ, sau đó đổ vào khuôn lá chuối để hấp cách thuỷ. Sau đó, tuỳ vào người ăn, hành phi được bỏ lên trên. Nước chấm là thành phần quan trọng để thưởng thức bánh bèo Hải Phòng trọn vẹn. Thực khách tuỳ khẩu vị vắt thêm quất, cho thêm ớt bột, hạt tiêu và rau thơm. Món ăn này thường được ăn kèm với thịt viên và chả, giống như ăn bánh cuốn
Bánh bèo Nghệ An
Có hình dạng giống với bánh bột lọc xứ Huế, chỉ khác nhau ở tên gọi. Bánh được làm từ bột lọc, cho nhân vào rồi vắt thành hình tròn dẹt, gập đôi lại. Khi hấp chín, bánh trong vắt, nhìn rõ nhân tôm và thịt nạc bên trong. Bánh bèo xứ Nghệ khi ăn thường rưới đẫm mắm chấm, rắc thêm hành khô và ớt tươi để thưởng thức
Bánh bèo Quảng Bình
Gồm những miếng bánh tròn mướt được xếp chồng lớp, sát nhau như lá bèo trên mặt sông. Người ta cho rằng, cách bày trí cũng chính là nguồn gốc tên gọi của món ăn này. Để làm bánh, ta cần hoà bột gạo với nước theo tỷ lệ chuẩn, cho vào khuôn tròn dẹt, chín trong lửa vừa. Thành phẩm là miếng bánh có màu trắng mướt mắt, sau đó, quết một lớp mỡ rồi bày bánh lên đĩa. Tôm chấy được xào trên chảo đến khi có màu vàng ưng ý, được rắc lên trên bánh. Cuối cùng, tóp mỡ được cho lên sau cùng. Tất cả hương vị quyện lại khiến món bánh thơm lừng, hấp dẫn.
Bánh bèo Huế
Bánh bèo chén là đặc sản mời khách đến thăm xứ Huế. Về thành phần cũng như cách chế biến, bánh bèo Huế giống với bánh bèo Quảng Bình nhưng cho vào chén, đúng theo phong cách "ăn hương ăn hoa" của người cố đô. Trên mỗi chén sẽ rắc thêm tôm chấy, tóp mỡ và hành phi. Khi ăn, thực khách ruới nước mắm cay ngọt lên trên, thưởng thức món bánh dẻo dai, béo bùi nhưng lại không bị ngấy.
Bánh bèo Quảng Nam
Cũng được đựng trong những chén nhỏ như bánh bèo chén Huế, tuy nhiên khác biệt với lớp bột thoảng hương lá dứa. Món bánh này được ăn thiên về để no hơn là ăn vặt, do phần bột được đổ dày hơn khiến thực khách no lâu. Phần tôm thay vì rắc lên như bánh bèo các tỉnh khác lại được nấu thành sốt đặc sánh với bột năng, đậm mùi tỏi băm. Bánh chín khéo phải có xoáy ở giữa để đổ sốt tôm lên trên. Khi ăn, thực khách chan nước mắm nguyên chất hoặc mắm dầm tỏi, ớt xanh
Bánh bèo miền Tây
Bánh bèo lá dứa là một loại bánh ngọt, đặc sản của miền Tây. Người dân sông nước thường ăn như món đồ ngọt ăn vặt trong ngày. Bánh thường có nhân là đậu xanh hoặc không có nhân, khi ăn chan nước cốt dứa và rắc mè rang lên bánh. Ngoài ra, bánh có thể ăn trực tiếp, chấm muối mè
Bông, đọt là phần tinh túy, phần cốt lõi nhứt của thực vật. Ăn bông tức là ăn cả
phấn hoa. Mà phấn hoa thì các nhà khoa học đã thừa nhận chứa nhiều sinh tố,
nhiều vi lượng khoáng chất, các hoocmon rất cần thiết cho cơ thể con người.
Bông lẻ bạn
Cây lẻ bạn có tên là lão bạng (nghêu già), sò huyết hay bang hoa (hoa sò, hoa
nghêu) là loài cỏ sống dại, thường trồng làm cảnh.
Hái về nấu canh với thịt hay hầm lâu với xương heo, là một món canh ăn mát, giải
nhiệt, trị ho và món hầm bồi dưỡng cơ thể suy nhược.
Bông điên điển
Còn co' tên gọi là điền thanh hoa vàng, thường mọc ở nước nhiễm mặn hay nước
chua phèn.
Hái bông điên điển về ăn với mắm kho, kèm với các loại rau khác như đọt tra, đọt
vừng, bông súng, rau dừa, thơm v.v… Miền Tây Nam bộ, ở những vùng điên điển mọc
nhiều…, đến mùa nở rộ vàng rực rỡ cả một vùng, ăn không hết, hái xuống muối dưa,
để dành ăn hay đem ra chợ bán.
Bông so đũa
So đũa thuộc cây họ đậu. Thân ốm và cao, mọc thẳng, có khi cao đến 10 mét, trông
lêu nghêu.
Bông so đũa thường được sử dụng nhiều để chế biến các món ăn. Có hai loại: loại
trắng và loại hường; luộc, chấm mắm, nước cá, nước thịt. Xào tôm thịt, cũng là
món ăn có hạng và lại bổ. Canh chua so đũa nấu với cá trê trắng là một đặc sản
đồng quê vào mùa nước rút.
Bông Dạ lý hương
Dạ lý hương còn có tên là dạ lai hương, bông lý. Dạ lý hương là loại cây nhỏ,
mọc leo. Bông mọc từng chùm, màu vàng pha lục. Chỉ nở về đêm, hương thơm ngát,
tỏa rất xa. Thường lấy lá non hay bông còn phong nhụy nấu canh tôm, thịt, ăn rất
mát.
Bông lý còn được xào với tôm, thịt, ăn đã ngon, còn thêm thơm miệng. Ở Trung,
thường nấu canh bông lý với hến.
Bông bí
Mẹ mong gả thiếp về vườn. Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.
Miệt vườn, thường ăn bông bí đỏ luộc (bí rợ, bí ngô) như một loại rau. Lựa những
bông búp, còn nhụy non, tước lớp xơ cứng xung quanh đài hoa, gần cuống, đem
luộc. Ăn với mắm kho thịt ba chỉ. Đôi khi ăn với mắm bằm với thịt mỡ, chưng hột
vịt. Lạ miệng, ăn được nhiều cơm.
Cầu kỳ hơn, dồn vào lòng hoa thịt heo bằm nhuyễn đã trộn với các thứ gia vị. Cột
túm lại, đem hấp. Khi ăn, cắt ra từng khúc. Nhai, nghe lạ miệng. Bùi, thơm, béo
mà không ngấy, vì chất mỡ đã rút vào các cơ xốp của cánh hoa rồi.
Tuy nhiên, đâu chỉ miền Nam mới biết ăn bông bí. Ở Quảng Nam, thường luộc bông
bí để chấm với các thứ mắm kho, nhứt là mắm mòi dầu Phan Thiết.
Bông hẹ
Hẹ còn có tên nén tàu, cứu thái. Theo Đông y, hẹ có chất kháng sinh thực vật
cao. Chẳng thế mà có vùng, người ta xào bún với nhiều hẹ, nghệ giã lấy nước,
tiêu, hành với đủ loại lòng heo (gan, phèo, phổi, lá lách, tim, ruột non, v.v…)
mỗi thứ một ít, để có được một món ăn ngon, lạ miệng. Còn chữa trị được những
cơn ho cứng đầu dai dẳng.
Giản đơn hơn, canh hẹ huyết heo, vừa rẻ tiền, vừa dễ nấu, cũng có cái thú vị của
nó. Ngon nhất là bông hẹ. Mua bông non, còn búp về lặt kỹ và rửa sạch, xào với
tôm và đậu hủ miếng.
Bông Sầu đông
Cây sầu đông nằm trong một họ: họ xoan. Cho nên, xoan (ở Bắc), sầu đông (ngoài
Trung), sầu đâu (trong Nam) là những cây hoang hay được trồng để lấy gỗ, lấy
bóng mát,
Sầu đâu trong Nam (trồng nhiều ở Châu Giang, Châu Đốc và phần lớn ở Campuchia
đem về bán) chỉ cao độ 4-5 mét, lá nhỏ. Bông sầu đâu trổ từng chùm ở đầu cành,
đầu ngọn, nhỏ xíu bằng hột mè, màu trắng, điểm lưa thưa những chấm xanh lợt. Chỉ
ăn chồi non và nụ búp của cây và có khi ăn cả lá tơ. Mua về lấy phần non, giã và
chỉ trộn với muối ớt ăn… Đó là cách ăn thô sơ nhứt của người Khơme. Ăn ngon hơn,
mua về lặt lá non và nụ bông vừa nhú ra, trụng trong nước sôi hay nước cơm sôi,
trộn với khô lóc nướng, xé nhỏ hay cá lóc nướng kẹp với thịt heo luộc, chấm nước
mắm me hay nước mắm tỏi ớt. Nếu mua được cá trên sấy (cũng ở Campuchia) trộn với
đọt non và bông nụ sầu đâu thì rất đúng bài bản.
Bắp chuối
Trong các loại bông thường ăn, có lẽ bắp chuối là phổ biến và được chế biến
thành nhiều món nhất. Ăn sống, luộc, trộn gỏi, nấu canh, lăn bột chiên. Thường
người ta chọn bắp chuối hột, vì bắp chuối hột đã mềm, mịn, lại trắng muột và
không có vị chát. Bắp của các loại chuối khác ăn cũng được.
Ở miệt đồng, bà con lựa bắp chuối non, bỏ phần già, phần xơ, đập giập, rồi để
sống chấm với tương, mắm kho hay ăn kèm với mắm chưng.
Đặc biệt là các món gỏi bắp chuối. Bắp chuối hột trộn với thịt gà xé phay, hành
tây, rau răm, bắp chuối trộn với tép luộc hay với da heo luộc mềm, xắt nhỏ, làm
nước mắm pha đường, giấm, tỏi, ớt rưới lên.
Thịt gà nấu canh chua với bắp chuối hột là một món canh chua có cỡ, ngon hết
biết. Bắp chuối nấu với lươn cũng là một món nhậu “can không nổi”.
Trong cỗ chay, bắp chuối hột xé ra từng miếng nhỏ, ướp gia vị, nhúng bột chiên,
ăn hổng thua món tôm lăn bột chiên.
Bông niên
Một loại bông phơi khô mang nhiều danh xưng nghe rất hay và cũng rất ý nghĩa.
Hoàng anh, kim trâm thảo, huyên thảo hay cỏ huyên, hoa niên và “vong ưu thảo”
nghĩa là cỏ tiêu sầu.
Sách vở xưa truyền lại rằng nếu nấu món canh cỏ huyên ăn thì sẽ quên hết ưu tư,
phiền muộn, lòng được yên ổn, tỉ như có được mẹ già bên cạnh an ủi, vỗ về. Mẹ
trồng cây cỏ huyên, mẹ săn sóc sức khỏe con bằng tô canh kim châm, nên thành ngữ
xưa thường dùng “huyên đường”, “huyên thung”, “nhà huyên” để chỉ người mẹ, vốn
bao giờ cũng lo lắng, thương yêu con cái.
Kim châm thường đi cặp với nấm mèo (mộc nhĩ), phù chú (tàu hủ ki) trong các món
ăn. Canh thịt heo bằm, nấu với bún tàu, bỏ kim châm, nấm mèo, không phải chỉ
ngọt nước, thơm canh mà còn mát cả dạ nữa. Trong các món cá hấp, cá chưng với
tương, với thịt thì không bao giờ vắng mặt kim châm, nấm mèo, bún tàu được.
Món chay hầm hay nấu rối (cách gọi ngoài Huế), nấu kiểm (cách gọi trong Nam) là
một món chay tổng hợp. Kim châm, đậu ve, cà rốt, bí đỏ, khoai môn cao, khoai
lang, đọt măng, đậu hủ miếng chiên, nấm mèo, bột khao, phù chúc.